Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 5
Tháng 10 : 201
Năm 2018 : 1.911
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN “PHƯƠNG PHÁP DẠY TIẾT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN DÂN GIAN THÔNG QUA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC– TÓM TẮT TRUYỆN DÂN GIAN CHO HỌC SINH KHỐI 6”

Văn học là một bộ môn khoa học trừu tượng, khó hiểu. Giá trị nội dung ý nghĩa của văn bản được thể hiện thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Muốn học văn tốt, người học phải có kĩ năng đọc, khả năng ghi nhớ, năng khiếu tưởng tưởng, bộc lộ suy nghĩ,…Như vậy điều kiện cơ bản đầu tiên là người học phải tiếp xúc văn bản, ghi nhớ văn bản. Đây cũng là một kĩ năng không thể thiếu đối với học sinh khi học môn văn, đặc biệt là học các văn bản tự sự.

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN

PHƯƠNG PHÁP DẠY TIẾT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN DÂN GIAN THÔNG QUA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC– TÓM TẮT TRUYỆN DÂN GIAN CHO HỌC SINH KHỐI 6”.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

          Văn học là một bộ môn khoa học trừu tượng, khó hiểu. Giá trị nội dung ý nghĩa của văn bản được thể hiện thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Muốn học văn tốt, người học phải có kĩ năng đọc, khả năng ghi nhớ, năng khiếu tưởng tưởng, bộc lộ suy nghĩ,…Như vậy điều kiện cơ bản đầu tiên là người học phải tiếp xúc văn bản, ghi nhớ văn bản. Đây cũng là một kĩ năng không thể thiếu đối với học sinh khi học môn văn, đặc biệt là học các văn bản tự sự.

Văn bản tự sự được đưa vào chương trình giảng dạy ở các cấp học với số lượng tác phẩm khá lớn như: Truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, trích đoạn tiểu thuyết…Theo chuẩn KTKN, khi học các văn bản này học sinh phải biết tóm tắt văn bản. Bởi vì việc tóm tắt vừa giúp học sinh nắm được nội dung văn bản, vừa phục vụ hiệu quả, thiết thực cho các hoạt động đọc - hiểu văn bản. Như vậy việc rèn luyện kỹ năng đọc - tóm tắt văn bản tự sự cho học sinh là hết sức cần thiết.

Đối với học sinh lớp 6 mới chập chững bước từ cấp Tiểu học lên, phương pháp học tập hoàn toàn mới lạ. Nhiều em khi giáo viên gọi đọc bài còn phải đánh vần từng chữ, một cách khó khăn, chứ chưa nói đến kĩ năng tóm tắt văn bản. Trong khi đó, chương trình Ngữ văn 6 học kì I, phần văn bản chiếm 100% là văn bản tự sự, hầu hết là truyện dân gian. Sang học kì II, văn bản tự sự cũng chiếm số lượng khá nhiều.

Trước thực trạng ấy, để giúp cho các em lớp 6 học tốt hơn môn ngữ văn nói chung và có kĩ năng “đọc - tóm tắt văn bản nói riêng’’,  tổ Ngữ văn chúng tôi mạnh dạn lên chuyên đề:

Phương pháp dạy tiết Đọc hiểu văn bản truyện dân gian thông qua việc rèn luyện kĩ năng đọc – tóm tắt truyện dân gian cho học sinh khối 6”.

II. THỰC TRẠNG:

1. Thuận lợi:

          - Được sự quan tâm của huyện và phòng Giáo Dục và Đào tạo Điện Biên Đông nên trường PTDTBT THCS Suối Lư đến nay đã có đủ cơ sở vật chất cơ bản để dạy và học. Đặc biệt là hệ thống máy tính, máy chiếu phục vụ cho việc dạy học bằng CNTT khá ổn định.

          - Tranh ảnh minh họa cho văn học dân gian khá đầy đủ và phong phú.

   a. Giáo viên:

          - Đội ngũ trẻ, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có tâm huyết với nghề, ham học hỏi.

          - Các giáo viên dạy văn đều có khả năng soạn giáo án điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy.

   b. Học sinh:

          - Được trang bị đầy đủ Sách giáo khoa, vở học tập, được hỗ trợ chi phí học tập.

          - Hầu hết các em ngoan ngoãn, lễ phép.

2. Khó khăn:

a. Về phía Giáo viên:

          - Kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế. Việc trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên cùng chuyên môn với các trường bạn còn ít.

          - Trình độ tin học còn hạn chế nên việc soạn một tiết giáo án điện tử mất rất nhiều thời gian. Điều này dẫn đến tâm lí ngại khó khi lên tiết CNTT.

          - Việc vận dụng các phương pháp truyền thống và phương pháp mới chưa được hài hòa  và chưa đạt hiệu quả. Tài liệu sử dụng hỗ trợ cho giảng dạy còn hạn chế…

          - Để có một tiết dạy hiệu quả thì khâu chuẩn bị rất công phu, nên việc đầu tư chưa được thường xuyên.

b. Về phía Học sinh: Tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế  như:

          - Khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt còn yếu, đọc viết chưa thông thạo, ghi nhớ chậm, đọc rồi lại quên.

          - Lười học, không chịu chuẩn bị bài trước khi đến lớp, đặc biệt là việc đọc tác phẩm ở nhà.

          - Một số em đọc quá chậm dẫn đến chưa tự mình đọc hết một tác phẩm nào trong suốt một học kì.

          - Chưa biết cách diễn đạt vấn đề, trình bày không xác định được trọng tâm.

          Với những hạn chế trên, học sinh cảm thấy văn bản tự sự dài lê thê, vượt quá khả năng cảm thụ của mình. Từ đó nảy sinh tâm lí chán nản, lười đọc. Cũng như giáo viên lười đọc tiểu thuyết. Để khắc phục khó khăn này, cả giáo viên và học sinh đều phải nổ lực rất nhiều. Mọi vấn đề đều phải giải quyết từ gốc đến ngọn. Chính vì vậy “Rèn kĩ năng đọc – tóm tắt văn bản” là chiếc chìa khóa giúp các em mở cánh cửa đầu tiên bước vào thế giới văn học. Đằng sau cánh cửa này các em tha hồ khám phá sự bí ấn, lí thú, hấp dẫn của các con chữ nghệ thuật.    

III. GIẢI PHÁP:

Có rất nhiều giải pháp khác nhau để giúp học sinh có thể tóm tắt văn bản. Chẳng hạn chỉ cần đọc nhiều lần văn bản và ghi nhớ. Điều này chỉ phù hợp với sĩ tử ngày xưa, suốt ngày dùi mài kinh sử. Còn ngày nay, học sinh được giáo dục một cách toàn diện hơn. Ngoài các môn khoa  học cơ bản, các em còn phải học ngoại ngữ, tin học, HĐNGLL để rèn luyện kĩ năng sống,…Bên cạnh đó học sinh ngày nay rất lười học Văn, ngại học Văn, muốn vận động bên ngoài chứ không chịu khép cửa phòng văn. Chính vì vậy giáo viên cần phải tìm ra giải pháp mới giúp học sinh tóm tắt được nội dung văn bản mà không mất nhiều thời gian. Dưới đây là một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong tiết văn bản đối với Hs khối 6 nói riêng, và Hs bậc THCS nói chung.

          1. Xác định mục đích và yêu cầu của đọc- tóm tắt văn bản:

          1.1/ Đọc:

          Đọc là cơ sở để thâm nhập một tác phẩm. Muốn nắm bắt được nội dung tác phẩm văn học nhất thiết phải đọc. Đó là một hình thức đặc thù của nhận thức văn học. Đọc sẽ kích thích quá trình tâm lí cảm thụ, tri giác tưởng tượng, xúc cảm, đưa người đọc vào thế giới tác phẩm. Có 3 mức độ đọc phải rèn cho Hs đó là đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm:

           Đọc đúng: Là không được đọc sai văn bản, là quá trình tri giác chính xác văn bản. Gv phải chỉnh sửa kịp thời khi học sinh phát âm sai. Gv dạy văn có thể kết hợp với GVCN cho các em luyện đọc vào 15 phút đầu giờ.

           Đọc hay: là bước tiếp theo của đọc đúng, phải trên cơ sở đọc đúng, đọc hay mới thành công. Đọc hay là bước đầu chuyển tiếp từ lĩnh vực ngôn ngữ sang lĩnh vực văn chương. Đọc đúng có nghĩa là đọc, còn đọc hay là đọc ra ý. Gv có thể đọc mẫu hoặc gọi Hs đọc tốt cho cả lớp cùng nghe.

           Đọc diễn cảm là một phương pháp đọc sáng tạo. Người đọc phải thể hiện được tình cảm, cảm  xúc của tác giả, nhân vật thông qua ngữ điệu, giọng điệu. Đọc diễn cảm là một phương tiện giáo dục bồi dưỡng đạo đức, thẩm mĩ cho các em, lôi cuốn các em nhập hồn vào tác phẩm.

          Từng bước rèn cho Hs 3 mức độ đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm. Sau đó mới rèn Hs đọc để tóm tắt văn bản, hay nói cách khác là đọc ghi nhớ nội dung cốt truyện của văn bản.

1.2/ Tóm tắt :

          Tóm tắt là một khâu không thể thiếu trong phần tiếp nhận văn bản, nhất là đối với phần văn học dân gian mà các em học sinh lớp 6 bước đầu làm quen. Vậy, tóm tắt văn bản là gì?
          Tóm tắt văn bản là trình bày lại một nội dung của một văn bản gốc theo một mục đích đã định trước.Văn bản tóm tắt thường ngắn hơn so với văn bản gốc.Việc lựa chọn thông tin để đưa vào văn bản tóm tắt phụ thuộc vào mục đích tóm tắt. Mục đích tóm tắt là nhân tố hàng đầu chi phối việc tóm tắt văn bản.Tuy nhiên, văn bản tóm tắt phải mang tính khách quan, phản ánh trung thực văn bản gốc. Từ đó, học sinh nắm được cái cốt lõi của câu chuyện. Khi tóm tắt văn bản, Gv và HS cần lưu ý:

- Diễn đạt càng ngắn gọn, càng súc tích càng tốt, loại bỏ những thông tin không cần thiết đối với mục đích tóm tắt.

- Văn bản tóm tắt phải luôn phản ánh trung thực nội dung văn bản gốc, không thêm thắt những nội dung không có trong văn bản gốc.

- Người tóm tắt cần diễn đạt theo cách riêng của mình, bằng lời văn của mình, hạn chế dùng lại các câu, đoạn trong văn bản gốc.

2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:

          Thời lượng của tiết ngữ văn trên lớp chỉ có 45 phút. Trong khi đó trọng tâm kiến thức, kĩ năng thái độ phải rèn cho học sinh khá nhiều. Học sinh khối 6 bước đầu mới làm quen với văn bản truyện dân gian khá dài. Vì vậy cả giáo viên và học sinh đều phải chuẩn bị chu đáo.

2.1/ Giáo viên:

- Đọc trôi chảy, diễn cảm văn bản.

- Tóm tắt văn bản một cách súc tích, đúng mục đích của từng bài học.

- Tìm tòi các phương pháp, kĩ thuật dạy học giúp các em biết cách tóm tắt văn bản một cách nhanh nhất.

- Tìm kiếm, chuẩn bị đồ dùng dạy học phù hợp với bài dạy.

- Thể hiện các phương pháp rõ ràng cụ thể trong giáo án.

2.2/ Học sinh:

- Luyện đọc văn bản ở nhà, tối thiểu là đọc đúng văn bản. Bởi vì đọc sai trên lớp sẽ phá vỡ mạch cảm xúc của truyện, làm truyện kém hấp dẫn.

- Xác định nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện.

- Nắm được trình tự các hành động sự việc do nhân vật làm nên.

- Xác định bố cục văn bản, nội dung của từng phần.

- Soạn các câu hỏi phần đọc hiểu để nắm mục đích của truyện.

- Luyện tập tóm tắt bằng lời văn của mình.

3. Áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tiết Đọc hiểu văn bản truyện dân gian thông qua việc rèn luyện kĩ năng đọc – tóm tắt truyện dân gian cho học sinh khối 6”.

3.1/Phương pháp đọc:

Có nhiều mức độ, hình thức và phương pháp đọc khác nhau như đọc bằng mắt, đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc một mình, đọc trước một nhóm, đọc trước tập thể vài chục người. Nhưng đọc để phục vụ tóm tắt thì có một số cách đọc như sau:

3.1.1/ Đọc diễn cảm:

Gv dạy văn có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn học sinh thâm nhập tác phẩm, nên GV cần phải có sự chuẩn bị kĩ.

+ Để đọc diễn cảm, Gv phải đọc đúng, đọc hay, bộc lộ được cảm xúc của nhà văn và nhân vật.

+ Người giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc cụ thể, đọc mẫu, gọi Hs đọc tốt trước.

+ Kết hợp với đọc phân vai: Bởi vì đọc phân vai là cách tạo cảm xúc, giọng điệu khác nhau giữa các tuyến nhân vật.

+ Sau khi Hs đọc xong, Gv phải nhận xét rõ ràng.

+ Hs cũng phải luyện đọc trước ở nhà, đến lớp đọc theo hướng dẫn của Gv.

+ Chú ý nghe giáo viên và bạn đọc.

+ Nhận xét cách đọc của bạn.

3.1.2/ Đọc phân vai:

          Đọc phân vai là cho Hs đóng vai các nhân vật trong truyện để đọc. Phương pháp này tái hiện lại lời thoại nhân vật một cách cụ thể, làm câu chuyện hấp dẫn sóng động hơn. Đồng thời cũng giúp các em dễ dàng xác định các tuyến nhân vật, lời thoại nhân vật,  tính cách nhân vật qua giọng điệu. Cách thực hiện phương pháp này:

+ Gv cần phân vai rõ ràng, phù hợp. Hướng dẫn cụ thể trước khi đọc để mạch truyện không bị phá vỡ khi các em nhầm vai.

+ Gv sẽ đọc phần dẫn truyện để dẫn dắt, nhắc nhở các vai kịp thời khi các em lúng túng.

+ Sau một đoạn có thể dừng lại nhận xét cách đọc và mới nhóm Hs khác đóng vai đoạn tiếp theo.

+ Chọn văn bản phù hợp để thực hiện.

* Ví dụ: Khi dạy truyện ngụ ngôn: "Thầy bói xem voi":

Giáo viên cho học sinh đọc diễn cảm phân vai sẽ góp phần tái hiện lại không gian thời điểm, sự việc diễn ra của 5 ông thầy bói mù xem voi, đoán dựa rồi xô xát, đánh nhau toạc cả máu đầu như một màn kịch vừa xảy ra. Qua đó đã giúp cho người đọc, người nghe thấy được tính chất hài hước mua vui, châm biếm của câu chuyện và tự rút ra được ý nghĩa của câu chuyện bằng cảm nhận và rung động riêng của cá nhân.

* Ví dụ: Khi dạy truyện cổ tích “Ông lão đánh cá và con cá vàng":

+ Gv đọc phần dẫn truyện rõ ràng, nhẹ nhàng, thương cảm đối với lời dẫn về ông lão; lên giọng ở những lời dẫn về mụ vợ để tỏ thái độ không hài lòng; giọng thư thái, nhẹ nhỏm khi đọc lời dẫn về cá vàng.

+ Chọn 1 Hs  nữ đóng vai mụ vợ, 1 Hs nam đóng vai ông lão, 1 Hs đóng vai cá vàng. Gv hướng dẫn từng vai cụ thể.

+ Trong qua trình đọc nếu Hs đọc chưa tốt thì nên đổi Hs khi hết đoạn. Bởi vì Hs đọc sai, đọc dở sẽ khiến các Hs khác bàn tán, không tập trung.

+ Sau khi đọc xong cho các em nhận xét về cách đọc của nhau.

Phương pháp này giúp Hs hiểu thông tin ngay trên từng dòng văn bản. Hs cũng có thể huy động vốn ngôn ngữ nói để kể lại câu chuyện, hoặc đoạn truyện theo hoạt động của nhân vật.

Thực tế học sinh rất hào hứng, thích thú với phương pháp này. Tùy từng văn bản, Gv nên sử dụng để mang lại hiệu quả cho giờ học.

3.1.3/Đọc theo bố cục kết hợp tóm tắt

          Đọc theo bố cục là phương pháp thường gặp trong đọc - hiểu văn bản. Cách đọc này giúp Hs dễ xác định được nội dung chính của đoạn văn vừa đọc xong, có nhu cầu tìm hiểu nội dung của đoạn văn tiếp theo, cho đến hết truyện. Tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc cũng sử dụng thủ thuật này để dẫn dắt đọc giả. Kết thúc hồi 72 tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”, La Quán Trung viết : “Chưa biết tính mệnh Tào Tháo phen này thế nào, xem đến hồi sau sẽ rõ”.

Đối với những truyện cổ tích dài như truyện “Thạch Sanh”, “Cây bút thần”, Gv nên sử dụng phương pháp này.

* Ví dụ: Khi dạy truyện “Cây bút thần”

- Gv đọc đoạn 1 từ đầu đến “Thích thú vô cùng”. Gv phát vấn rút ra nội dung đoạn 1: Mã Lương là em bé mồ côi, thông minh lại chăm chỉ học vẽ nên được thần cho bút. Khi được thần cho bút, Mã Lương sử dụng cây bút như thế nào?  Cô mời một bạn đọc đoạn tiếp theo? Các em chú ý theo dõi để trả lời câu hỏi.

- Các đoạn tiếp theo Gv làm tương tự: Em dùng cây bút để vẽ cày, vẽ cuốc cho nhân dân. Nhưng đối với tên địa chủ em dùng cây bút để làm gì?

- Gv cũng có thể yêu cầu 1 học sinh khác tóm tắt đoạn bạn vừa đọc, thay cho việc phát vấn. Cách đọc này, giúp học sinh làm quen với việc đọc có mục đích, đọc ghi nhớ và đọc ra ý. Các em sẽ tập trung cao độ vào việc đọc và chuẩn bị tâm thế để trả lời câu hỏi của Gv sau mỗi đoạn. Khi đọc hết truyện các em cũng hình dung được nội dung từng đoạn, nội dung cốt truyện.

3.2/ Phương pháp tóm tắt:

Dù sử dụng phương pháp nào thì phần tóm tắt của Hs cũng phải đảm bảo nội dung cốt truyện. Cốt truyện trong các văn bản tự sự dân gian là các biến cố, các sự kiện xảy ra liên tiếp từ cái này đến cái kia, cái sau tiếp nối cái trước cho đến hết truyện.

  • Các bước tóm tắt:  Gv nên cung cấp các bước cơ bản để các em tự rèn kĩ năng tóm tắt. Quá trình tóm tắt cần đi từ yêu cầu đơn giản đến phức tạp cụ thể là:

Bước 1: Đọc văn bản

          Đây là bước đầu tiên không thể thiếu đối với mọi văn bản, mọi đối tượng học sinh. Hs phải tự mình đọc văn bản từ đầu cho đến câu cuối cùng.

Bước 2:

-  Xác định nhân vật: Nhân vật chính, nhân vật phụ.

-  Xác định sự việc: Sự việc mở đầu, sự việc phát triển, sự việc kết thúc.

-  Sắp xếp hệ thống sự kiện việc theo lôgíc hợp lý và bám sát văn bản gốc.

  • Tiến hành tóm tắt văn bản theo nhân vật chính theo các sự kiện đã nêu một cách ngắn gọn.

Bước 3: Xác định các sự việc cơ bản do nhân vật chính gây ra hoặc xảy ra với nhân vật chính.

Ví dụ: Tóm tắt truyện “ Thánh Gióng” theo nhân vật Thánh Gióng có các sự việc chính sau:

- Gióng ra đời kì lạ.

- Gióng đòi đi đánh giặc

- Gióng lớn nhanh như thổi

- Gióng đánh tan giặc Ân

- Gióng được nhân dân biết ơn.

          Trong truyện dân gian, cốt truyện gắn chặt với nhân vật đến nỗi nhiều khi kể chuyện tức là kể người như: Thánh Gióng, Sơn Tinh- Thuỷ Tinh, Sọ Dừa, ...

Bước 4: Dùng lời văn để tóm tắt văn bản

- Tóm tắt văn bản bằng văn bản viết (có thể bỏ qua đối với văn bản ngắn, đối với Hs khá giỏi)

- Tóm tắt bằng văn bản nói: Hs tự mình tóm tắt được văn bản cho người khác nghe. Đây là bước cuối cùng quyết định Hs có biết tóm tắt hay không.

          Khi tóm tắt, Hs thường lúng túng câu mở đầu truyện. Gv cung cấp một số cụm từ mở đầu truyện, đứng trước các tình tiết, sự việc. Chẳng hạn như: "Ngày xửa ngày xưa", "Vào đời", "Vào thời", "Một hôm", "ít lâu sau", "Thế rồi một ngày kia",... sử dụng ngôn ngữ nhân dân đời thường cùng với ngôi kể. Ngôi kể thứ 3, người kể giấu mình thể hiện tính khách quan của câu chuyện. Ngôi kể thứ nhất, người kể xưng tôi thể hiện tính chủ quan của câu chuyện. Học sinh kể sẽ rèn luyện được kỹ năng diễn đạt (nói) lưu loát, mạnh dạn trước tập thể đông người, khiến các em có nhiều tự tin trong giao tiếp và học tập.

Dưới đây là một số phương pháp giúp học sinh tóm tắt truyện dân gian. Từ phương pháp thụ động đến phương pháp tích cực. Tùy đối tượng và tùy từng văn bản mà Gv sử dụng cho phù hợp.

3.2.1/ Nghe tóm tắt mẫu:

          Phương pháp này giúp học sinh hình dung được thế nào là tóm tắt. Các em nghe để biết cách sử dụng lời văn  như lời văn giới thiệu nhân vật, lời văn giới thiệu sự việc. Đồng thời làm quen với giọng điệu, ngữ điệu khi tóm tắt. Với học sinh khối 6, kĩ năng nói, diễn đạt còn non,  phương pháp này khá phù hợp. Đối với thời lượng một tiết học thì phương pháp này dễ sử dụng, sử dụng ngay trong tiết học.

- Gv có thể cho các em nghe các đoạn ghi âm tóm tắt, đoạn vi deo của các bé kể chuyện hay.

- Gv tóm tắt kết hợp cử chỉ hoặc gọi Hs xung phong tóm tắt.

- Khi Gv tóm tắt có thể tóm tắt một mình hoặc phát vấn để Hs ghi nhớ các nhân vật chính, sự việc chính.

- Dặn Hs về nhà tự tóm tắt bằng lời văn của mình.

3.2.2/ Ghi lại phần tóm tắt

          Ghi lại phần tóm tắt truyện là phương pháp không tích cực lắm. Tuy nhiên đối với văn bản quá dài, sự việc phức tạp thì việc Hs sắp xếp lời văn để tóm tắt rất khó khăn. Đặc biệt là đối với Hs đọc yếu, đọc chậm, ghi nhớ kém thì phải sử dụng phương pháp này. Xét về lâu dài thì phương pháp này có hiệu quả. Vì phần ghi chép giúp các em nhớ lâu, lấy làm tư liệu để học tập. Thỉnh thoảng đọc lại để không lẫn lộn với các văn bản khác.

- Phương pháp này rất mất thời gian nên Gv cho ghi một cách vắn tắt. Yêu cầu Hs đọc thêm văn bản để có thể tóm tắt chi tiết hơn.

- Trong các tiết phụ đạo, đọc cho Hs chép. Hs đọc lại rồi tự mình tóm tắt.

3.2.3/ Tóm tắt theo đoạn, theo bố cục:

          Bước đầu Hs chưa làm quen với việc tóm tắt Gv nên cho các em tóm tắt từng đoạn. Điều này giúp các em dần dần tự tin, mạnh dạn hơn. Đồng thời có thể kiểm tra khả năng tóm tắt của nhiều Hs trong 1 giờ học.

- Trước khi tóm tắt, Gv phát vấn để Hs tìm bố cục, nội dung từng phần.

- Sau đó, Gv có thể linh hoạt gọi Hs tóm tắt hoặc có đoạn Gv tóm tắt.

- Khi chuyển đoạn Gv phải nhận xét, đặt ra tình huống có vấn đề Hs để tóm tắt đoạn truyện tiếp theo.

* Ví dụ: Khi dạy truyện cổ tích “Em bé thông minh”

          Gv tóm tắt đoạn 1, bình luận: Qua cách trả lời câu hỏi của viên quan, chúng ta thấy em bé thông minh, nhanh trí hơn người cha và viên quan. Sự thông minh, tài giỏi của em được thể hiện như thế nào qua hai lần thử thách của nhà vua, cô mời 1 bạn tóm tắt đoạn tiếp theo.

          Hs tóm tắt xong, Gv nhận xét và bình: Qua phần tóm tắt của bạn, chúng ta thấy rằng sự thông minh của em bé ngày một được khẳng đinh. Không những giỏi hơn bố mà em còn giỏi hơn cả dân làng, được vua, quan lại nể phục. Tài năng của em bé có dừng lại ở đó không? Hay còn được tiếp tục thử thách? Cô mời một bạn tóm tắt đoạn còn lại.

3.2.4/ Nhìn tranh ảnh minh họa để tóm tắt

Nghe tóm tắt, Hs có thể quên nhưng nhìn tranh để tóm tắt Hs có thể nhớ lâu hơn. Bởi vì tranh tái hiện lại bối cảnh, nhân vật rõ nét, sinh động hơn, gây sự chú ý và để lại ấn tượng sâu đậm trong trí nhớ của các em.

- Thực hiện phương pháp này, Gv phải tích cực sử dụng đồ dùng dạy học, làm đồ dùng dạy học. Hiệu quả nhất là ứng dụng CNTT trình chiếu hình ảnh minh họa, kết hợp hiệu ứng để tạo hình ảnh động.

- Tranh ảnh phục vụ phần văn học dân gian khối 6 chỉ tái hiện lại một hoạt động nào đó của nhân vật, có truyện lại không có tranh. Giáo viên có thể tưởng tượng vẽ ra để làm minh họa cho các sự việc chính.

- Tranh ảnh không phù hợp sẽ làm học sinh phân tán tư tưởng. Vì vậy Gv chỉ sử dụng phù hợp với từng hoạt động, lúc nào không dùng tranh nữa thì cất tranh đi.

- Tranh ảnh minh họa phải sắp xếp theo trình tự sự việc để Hs dễ hình dung.

- Khi tóm tắt, Gv có thể chỉ vào tranh để chú thích cho lời nói. Nếu chỉ có một bức tranh minh họa thì trước khi tóm tắt, Gv hỏi: Bức tranh này minh họa cho những nhân vật và sự việc nào ?

- Những tranh đơn giản, Gv có thể vẽ minh họa trên bảng trong khi giảng.

Ví dụ: - Vẽ núi cao lên, cao lên liên tục của Sơn Tinh khi Thủy Tinh dâng nước.

          - Vẽ bánh chưng, bánh giày tượng trưng cho trời và đất.

- Cho các nhóm vẽ tranh để các em khắc sâu hình ảnh, chỉ cần nhìn tranh là nhớ cốt truyện. Chẳng hạn vẽ tranh cho truyện “Thầy bói xem voi” . Bức tranh này vừa xác định cho Hs truyện có 5 nhân vật, đặc điểm của 5 nhân vật, hoạt động của các nhân vật là sờ vòi, sờ ngà, sờ tai, sờ chân, sờ đuôi của con voi.

3.2.5/ Kĩ thuật “Các mảnh ghép”:

          Kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác. Sử dụng kĩ thuật này vào tóm tắt làm giờ học tăng thêm tính hứng thú, bản thân người học tự giác động não, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động.

- Cách vận dụng kĩ thuật này vào tóm tắt:

+ Vòng 1: Sau khi đọc xong văn bản, Gv chia nhóm, yêu cầu các nhóm viết ra bảng nhóm các sự việc chính của truyện. Nếu truyện dài thì Gv phân đoạn, yêu cầu Hs viết sự việc chính.

+ Vòng 2: Gv chia nhóm mới, yêu cầu các em sắp xếp các sự việc theo trình tự hợp lí của truyện.

          Nếu cảm thấy không đủ thời gian, Gv có thể tự mình ghi các sự việc chính rồi cho Hs sắp xếp sự việc. Dựa vào trình tự sự việc đúng, Gv gọi Hs tóm tắt văn bản.

- Ví dụ: Khi dạy truyện “ Ông lão đánh cá và con cá vàng”

+ Vòng 1: Gv chia nhóm giao việc cho 4 nhóm

          Nhóm 1: Liệt kê 5 đòi hỏi của mụ vợ đối với cá vàng?

          Nhóm 2: Liệt kê 5 câu văn kể tả về cách ra biển của ông lão?

          Nhóm 3: Liệt kê 5 câu văn miêu tả cảnh biển?

          Nhóm 4: Thái độ của cá vàng qua 5 lần ông lão nhờ giúp ( Đồng ý hay không đồng ý)?

          Gv treo bảng nhóm lên bảng cho Hs nhận xét

+ Vòng 2: Cả 4 nhóm cùng sắp xếp trình tự hoạt động chính của 4 nhân vật vào phiếu học tập theo mẫu.

Sau khi làm xong, Hs về chỗ ngồi. Gv dùng 5 mảnh ghép với 5 sự việc lộn xộn. Yêu cầu Hs sắp xếp theo trình tự sự việc trong văn bản, gọi 1 Hs xung phong lên bảng sắp xếp, gọi 1 Hs khác tóm tắt.

 3.2.6/ Sơ đồ tư duy:

          Từ trước đến nay, dạy văn thường sử dụng kí tự để ghi chép thông tin. Bằng cách này, Hs chỉ sử dụng 50% khả năng ghi nhớ của não bộ để ghi nhận thông tin. Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong việc ghi chép và ghi nhớ. Sử dụng kĩ thuật này, Gv phải biết sáng tạo, tự vẽ trước khi đến lớp.

* Bước 1: Vẽ sơ đồ

- Bám sát nhân vật chính, sự việc chính để vẽ, dùng mũi tên để chỉ hướng phát triển của sự việc do nhân vật gây ra.

- Vẽ theo trình tự thời gian, không gian: Cũng dùng mũi tên chỉ sự thay đổi thời gian, không gian.

- Vẽ theo đoạn văn: Sơ đồ tư duy theo đoạn văn giúp Hs tiết kiệm  thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó.

Bước 2: Sử dụng

- Lên lớp giáo viên nhìn vào sơ đồ vừa tóm tắt vừa phân tích. Sau đó yêu cầu Hs thực hiện lại.

- Dùng vào hoạt động tóm tắt, hoặc củng có, có bài có thể sử dụng phân tích nội dung.

-  Hướng dẫn Hs vẽ những Sư đồ tư duy tí hon tí hon ên những nhãn nhỏ và đính chúng trong sách giáo khoa.

3.2.7/Diễn xuất (nhập vai vào nhân vật)

          Diễn xuất là biện pháp tái hiện lại câu chuyện một cách chân thực, sinh động và hấp dẫn nhất. Những học sinh tham gia diễn xuất sẽ nắm rất vững tác phẩm, còn các Hs khác khi xem các em sẽ nhớ rất lâu mà không nhàm chán. Phương pháp này rất khó sử dụng trong giờ học. Vì vậy Gv có thể sử dụng vào giờ phụ đạo, chuyên đề ngoại khóa, hội diễn văn nghệ của trường. Với nhưng truyện có ít cảnh có thể sử dụng trong giờ học.

- Ví dụ: Khi dạy  truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” : Gv vẽ 1 con voi dán lên bảng, chọn 5 Hs đóng vai 5 ông thầy bói. Bằng cách này các diễn viên đã nhắc lại lời thoại phù hợp ngữ cảnh, thể hiện rõ mâu thuẫn về ý kiến của các thầy.

- Ví dụ: Với truyện cổ tích “Em bé thông minh”: Gv cho Hs diễn xuất sự việc em bé giải quyết lệnh của nhà vua đối với dân làng. Chọn 4 Hs đóng vai dân làng, 1 Hs đóng vai người cha, 1 Hs diễn tốt đóng vai em bé, 1 Hs đóng vai vua.

3.2.8/ Thi kể chuyện

          Thi kể chuyện là cách tạo ra động lực để các em tự rèn cách kể chuyện đúng, trôi chảy và hấp dẫn. Gv có thể sử dụng phương pháp này trong giờ luyện nói, giờ ôn tập, giờ phụ đạo, thỉnh thoảng lồng vào sinh hoạt lớp. Để Hs hoạt động tích cực, Gv để cho các em tự chọn ban giám khảo, chấm điểm cho các đội, Gv chỉ là người theo dõi, dẫn dắt khi cần thiết.

3.2.9/ Cho Hs xem phim

          Phim ảnh là một dạng chuyển thể văn học sang điện ảnh. Phương pháp này bổ trợ thêm khả năng tri giác ngôn ngữ, khả năng tưởng tượng cho Hs bằng thị giác, thính giác. Thực tế cho thấy hầu hết Hs nhớ sự việc nhân vật qua phim tốt hơn đọc truyện. Tuy nhiên Gv cần chọn lọc đoạn phim giữ lại tinh thần của văn bản. Phương pháp này mất rất nhiều thời gian. Gv có thể hướng dẫn các địa chỉ để các em xem ở nhà, xem tập thể như: Mua đĩa, trên mạng, canh Thuần Việt. Chẳng hạn truyện truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “ Thạch Sanh”, “Thầy bói xem voi”,...

3.2.10/ Tích hợp truyện vào tình huống giao tiếp

          Tích hợp cũng là một phương pháp dạy học hiệu quả, phát triển khả năng liên tưởng của Hs. Các sợi dây liên tưởng sẽ kết nối trí nhớ rất tốt. Với văn học dân gian, đặc biệt là truyện ngụ ngôn thì khả năng tích hợp vào tình huống giao tiếp rất nhiều. Mỗi lần tích hợp là Gv đã nhắc lại kiến thức đã học cho Hs, mỗi lần Hs sử dụng là Hs đã tự củng cố và khắc sâu nhân vật, sự việc chính trong truyện.

* Ví dụ: Khi dạy truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng”:

+ Gv hướng dẫn Hs các tình huống sử dụng thành ngữ “Ếch ngồi đáy giếng”

- Một người kém hiểu biết mà tỏ ra ta đây hiểu biết bị chê cười: Đúng là “Ếch ngồi đáy giếng”

- Một người khiêm tốn nhìn thẳng vào hạn chế của mình nói: Mình không biết gì hết, chẳng khác nào “Ếch ngồi đáy giếng”.

+ Gv hướng dẫn Hs các tình huống sử dụng thành ngữ “Coi trời bằng vung”.

 - Một Hs con hiệu trưởng ngang ngạnh trong giờ học. Cô giáo nhắc nhở. Hs ấy bảo: “Nếu cô muốn tiếp tục dạy ở trường này thì đừng bao giờ gây sự với em”. Các bạn trong lớp có thể đánh giá bạn ấy: Đúng là “Coi trời bằng vung”.

Bằng cách này, Gv đồng thời giáo dục kĩ năng sống cho các em qua tác phẩm văn học. Khi các em biết cách sử dụng thì việc ghi nhớ không còn khó khăn. Chỉ cần nghe thành ngữ “Ếch ngồi đáy giếng”, “Ôm cây đợi thỏ”, “Há miệng chờ sung” thì người nghe nhớ ngay đến cốt truyện.

IV.KẾT LUẬN  - KIẾN NGHỊ:

 1. Kết luận:

          Chuyên đề Phương pháp dạy tiết Đọc hiểu văn bản truyện dân gian thông qua việc rèn luyện kĩ năng đọc – tóm tắt truyện dân gian cho học sinh khối 6” của tổ Văn- Sử  đưa ra khá nhiều phương pháp. Khi áp dụng các phương pháp này, chúng tôi thấy Hs có sự chuyển biến tích cực. Các em từ chỗ nhút nhát, không biết nói gì, nói nhỏ đến chỗ mạnh dạn đứng trước tập thể lớp tóm tắt bằng lời văn của mình. Nếu tiếp tục áp dụng các phương pháp này vào dạy học thì bên cạnh rèn kĩ năng đọc- tóm tắt, Gv còn từng bước rèn được kĩ năng thuyết trình, giao tiếp cho Hs. Mỗi lần tóm tắt được văn bản 2-5 phút trước đám đông là mỗi lần Hs tự tin để khẳng định mình. Khi Hs đã nắm nội dung cốt truyện thì bước tìm hiểu văn bản không còn khó khăn nữa. Tuy nhiên việc ứng dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học này vào giảng dạy môn Ngữ văn khối 6 Gv cần chú ý một số điểm như sau:

- Trước mỗi tiết văn bản, Gv nghiên cứu các phương pháp, kĩ thuật nào có thể đưa vào giúp Hs đọc – tóm tắt.

- Tích cực chuẩn bị ĐDDH phù hợp với các phương pháp kĩ thuật tích dạy học mà mình đưa ra.

- Thiết kế giáo án với dụng ý đưa các phương pháp, kĩ thuật đọc – tóm tắt phù hợp từng hoạt động, từng đơn vị kiến thức bài học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

- Gv phải biết sắp xếp thời gian hợp lí để thực hiện từng hoạt động trong một tiết dạy.

- Nhiệt tình tổ chức cho Hs tham gia các hoạt động ngoại khóa, NGLL, văn hóa- văn nghệ: Như cho các em xem phim, tập cho các em kể chuyện, diễn kịch,...

2. Kiến nghị :

- Thư viện nhà trường nên có thêm nhiều tranh ảnh phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy.

- Chủ đề của các hội thi kể chuyện văn nghệ nên tích hợp văn học như hát dân ca, kể chuyện dân gian, kịch vui,...

- Các giáo viên am hiểu về tin học phải nhiệt tình giúp đỡ Gv văn thực hiện ý tưởng của mình


Tác giả: Phạm Hương Sen
Nguồn: Trường PTDTBT THCS SUỐI LƯ
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video Clip